Phát triển nguồn nhân lực – Kinhtehoinhap.com https://kinhtehoinhap.com Nơi cung cấp thông tin, phân tích chuyên sâu về kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế. Cập nhật tin tức, chính sách và xu hướng thị trường. Mon, 01 Sep 2025 01:21:58 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.7.2 https://cloud.linh.pro/news/2025/08/kinhtehoinhap.svg Phát triển nguồn nhân lực – Kinhtehoinhap.com https://kinhtehoinhap.com 32 32 Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ: Thách thức và giải pháp cho Việt Nam https://kinhtehoinhap.com/phat-trien-nguon-nhan-luc-khoa-hoc-va-cong-nghe-thach-thuc-va-giai-phap-cho-viet-nam/ Mon, 01 Sep 2025 01:21:55 +0000 https://kinhtehoinhap.com/phat-trien-nguon-nhan-luc-khoa-hoc-va-cong-nghe-thach-thuc-va-giai-phap-cho-viet-nam/

Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ (KH&CN) đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ. Việt Nam đã có những nỗ lực đáng kể nhằm nâng cao chất lượng và số lượng nguồn nhân lực KH&CN, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần được giải quyết để đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế.

Phát triển kinh tế Bắc Ninh trên nền tảng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo
Phát triển kinh tế Bắc Ninh trên nền tảng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo

Thực trạng phát triển nguồn nhân lực KH&CN ở Việt Nam cho thấy một số thành tựu đáng kể. Số lượng nhân lực nghiên cứu và phát triển (R&D) đã tăng đều đặn, từ khoảng 112.583 người vào năm 2018 lên 197.887 người vào năm 2021. Đội ngũ nhà khoa học có trình độ cao cũng gia tăng, với số lượng cán bộ có trình độ sau đại học trong lĩnh vực KH&CN tăng đáng kể. Điều này cho thấy sự quan tâm và đầu tư của đất nước vào lĩnh vực KH&CN đã mang lại kết quả tích cực.

Phát triển kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới - Phát huy vai trò của chuyển đổi số trong doanh nghiệp
Phát triển kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới – Phát huy vai trò của chuyển đổi số trong doanh nghiệp

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, vẫn còn một số hạn chế và thách thức cần được khắc phục. Tỷ lệ nhân lực R&D trên dân số còn thấp, chỉ đạt khoảng 8-9 người trên một vạn dân vào năm 2023. Năng suất lao động chưa cao, với năng suất lao động năm 2024 ước đạt khoảng 218 triệu đồng/lao động. Khoảng cách giữa đào tạo và yêu cầu thực tiễn vẫn còn lớn, với nhiều doanh nghiệp phản ánh rằng sinh viên mới tốt nghiệp thường cần đào tạo lại để đáp ứng yêu cầu công việc. Điều này cho thấy cần có sự điều chỉnh và cải thiện trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực KH&CN.

Để thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực KH&CN, cần thực hiện một số giải pháp đồng bộ. Trước hết, cần đổi mới mạnh mẽ đào tạo và phát triển nhân lực KH&CN, bao gồm việc cập nhật chương trình đào tạo, tăng cường thực hành và gắn kết giữa nhà trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng yêu cầu thực tiễn của thị trường lao động.

Ngoài ra, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài, bao gồm việc xây dựng thang lương, phụ cấp đặc thù và cạnh tranh. Đây là yếu tố quan trọng để thu hút và giữ chân những người có tài năng trong lĩnh vực KH&CN. Tăng cường đầu tư và đa dạng hóa nguồn lực tài chính cho phát triển nhân lực KH&CN cũng là một giải pháp cần thiết, bao gồm việc phấn đấu đạt mức 1% GDP trong ngắn hạn và hướng tới 2% trong dài hạn.

Cuối cùng, xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực KH&CN. Điều này bao gồm việc thay đổi cách đánh giá, tạo không gian cho thử nghiệm và thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Văn hóa đổi mới sáng tạo sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển của nguồn nhân lực KH&CN và góp phần nâng cao năng suất lao động.

Kết luận, phát triển nguồn nhân lực KH&CN là một nhiệm vụ quan trọng trong việc thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam. Với những nỗ lực và giải pháp quyết liệt, Việt Nam có thể xây dựng một đội ngũ nhân lực KH&CN chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế. Để biết thêm thông tin về các chính sách và chương trình phát triển nguồn nhân lực KH&CN tại Việt Nam, vui lòng tham khảo trang web của Bộ Khoa học và Công nghệ hoặc các nguồn thông tin khác.

]]>
Gia Lai đầu tư đào tạo 7.500 nhân lực công nghệ cao ngành bán dẫn, AI https://kinhtehoinhap.com/gia-lai-dau-tu-dao-tao-7-500-nhan-luc-cong-nghe-cao-nganh-ban-dan-ai/ Fri, 29 Aug 2025 17:57:07 +0000 https://kinhtehoinhap.com/gia-lai-dau-tu-dao-tao-7-500-nhan-luc-cong-nghe-cao-nganh-ban-dan-ai/

Trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển công nghiệp công nghệ cao đang trở thành xu hướng toàn cầu, các địa phương trên cả nước đang đẩy mạnh phát triển lĩnh vực này thông qua các đề án và chính sách hỗ trợ. Tỉnh Gia Lai là một trong những địa phương tiên phong với Đề án phát triển nguồn nhân lực trong các lĩnh vực công nghiệp bán dẫn, AI, an toàn và an ninh mạng giai đoạn 2025-2030. Mục tiêu của đề án là đào tạo ít nhất 7.500 kỹ sư, cử nhân và chuyên gia trình độ cao, đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam.

Trường Đại học Quy Nhơn đóng vai trò chủ lực trong việc thực hiện đề án này, với hệ thống phòng thí nghiệm công nghệ bán dẫn dùng chung được đầu tư 120 tỷ đồng phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu chuyên sâu. Tại buổi họp báo, đại diện lãnh đạo nhà trường đã giới thiệu về chính sách ưu đãi và cơ hội việc làm dành cho sinh viên theo học các lĩnh vực này. Sinh viên được vay vốn tín dụng từ Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh để đóng học phí và được tỉnh hỗ trợ 100% lãi suất trong suốt thời gian học. Trường hợp cam kết làm việc tại tỉnh tối thiểu 3 năm sau khi tốt nghiệp, sinh viên sẽ được tỉnh chi trả toàn bộ học phí. Bên cạnh đó, còn có các chính sách học bổng của nhà trường, học bổng tài trợ từ doanh nghiệp đối tác, học bổng Vallet; hỗ trợ ký túc xá, thực tập tại các công ty công nghệ hàng đầu, được ưu tiên tuyển dụng theo chính sách của tỉnh…

Không chỉ những trung tâm lớn như Hà Nội, TP.HCM hay Đà Nẵng mới thiết lập những chính sách ưu đãi đột phá để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển ngành công nghệ cao. Bắc Ninh cũng là một ví dụ đáng chú ý, với loạt chính sách đi đầu để phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp bán dẫn kể từ năm 2024. Theo đó, cho đến năm 2030, Bắc Ninh sẽ hỗ trợ học phí cho học sinh, người lao động đã tốt nghiệp THPT tham gia học trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp theo chương trình đào tạo chất lượng cao và nghề liên quan đến công nghiệp bán dẫn tại cơ sở đào tạo trên địa bàn từ 1.640.000 đồng/tháng/người – 2.940.000/tháng/người tùy theo bậc học và năm học khác nhau.

Đặc biệt, nếu các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ ở ngoài tỉnh được tuyển dụng, tiếp nhận giảng dạy chương trình cam kết làm việc lâu dài ít nhất 10 năm sẽ được hỗ trợ kinh phí nhà ở 1 tỷ đồng. Trong khi đó, Thạc sĩ nam ngành công nghiệp bán dẫn được hỗ trợ 80 triệu đồng, thạc sĩ nữ được hỗ trợ 100 triệu đồng.

Tháng 4 năm nay, Bộ Tài chính đã công bố dự thảo tín dụng đối với học sinh, sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh học các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán (STEM), trong đó đề xuất sinh viên ngành STEM được vay vốn dưới 500 triệu không cần đảm bảo. Cụ thể, mức vốn cho vay tối đa đối với 1 người học bao gồm tiền sinh hoạt phí tối đa là 5 triệu đồng/tháng, toàn bộ tiền học phí phải đóng của người học. Khách hàng vay vốn dưới 500 triệu đồng không phải thực hiện bảo đảm tiền vay. Như vậy, ví dụ mức học phí phải đóng của người học là 50 triệu đồng/năm và thời gian học 4 năm thì tổng mức vay vốn tối đa lên tới 440 triệu đồng và không phải thực hiện bảo đảm tiền vay.

Chính sách cũng quy định rõ thời hạn giải ngân và trả nợ linh hoạt. Thời hạn giải ngân bắt đầu từ ngày sinh viên nhận khoản vay đầu tiên cho đến ngày kết thúc khóa học. Thời hạn trả nợ sau đó tính bằng đúng thời gian giải ngân kèm theo thời hạn ân hạn tối đa 12 tháng sau khi hoàn thành khóa học. Dự kiến, ngay sau khi Thủ tướng ký ban hành, Ngân hàng Chính sách xã hội sẽ công bố thủ tục và quy trình cho vay, triển khai trên toàn quốc. Gói tín dụng ưu đãi dành cho STEM được kỳ vọng sẽ mang đến cú huých mạnh mẽ cho chiến lược đào tạo nhân lực công nghệ của Việt Nam.

]]>
Thiếu hụt nhân lực chất lượng, ngành logistics cần chiến lược hợp tác đào tạo https://kinhtehoinhap.com/thieu-hut-nhan-luc-chat-luong-nganh-logistics-can-chien-luoc-hop-tac-dao-tao/ Mon, 25 Aug 2025 00:52:33 +0000 https://kinhtehoinhap.com/thieu-hut-nhan-luc-chat-luong-nganh-logistics-can-chien-luoc-hop-tac-dao-tao/

Ngành logistics tại Việt Nam đang trải qua một giai đoạn phát triển nhanh chóng với tốc độ tăng trưởng bình quân 14-16% mỗi năm. Tuy nhiên, đằng sau tốc độ tăng trưởng ấn tượng này là thực trạng đáng lo ngại về sự thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực. Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) đã đưa ra báo cáo cho thấy ngành logistics có tốc độ phát triển đáng kể trong những năm gần đây, với quy mô khoảng 40-42 tỷ USD/năm và được xem là một trong những ngành dịch vụ tăng trưởng nhanh và ổn định nhất.

Giá xăng giảm về dưới 20.000 đồng/lít
Giá xăng giảm về dưới 20.000 đồng/lít

Hiện tại, Việt Nam đứng thứ 43/155 nước về hiệu quả logistics và thuộc nhóm 5 nước dẫn đầu ASEAN. Với khoảng 30.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics, trong đó gần 4.000 là doanh nghiệp chuyên nghiệp có khả năng cung ứng dịch vụ quốc tế, nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Để duy trì vị thế này, lực lượng lao động ngành logistics cần phải được nâng cao cả về số lượng lẫn chất lượng.

Nhà đầu tư còn "e dè" rót vốn vào hạ tầng logistics
Nhà đầu tư còn “e dè” rót vốn vào hạ tầng logistics

Đặc biệt, tại TP. Hồ Chí Minh, trung tâm logistics lớn nhất cả nước, nhu cầu nhân sự mới mỗi năm lên tới 8.400-10.000 người, nhưng các trường đại học, cao đẳng hiện chỉ có thể đào tạo ra khoảng 2.500 người/năm, chưa đáp ứng nổi 30% nhu cầu. Tương tự, tại Hải Phòng, địa phương có hệ thống cảng biển và logistics phát triển mạnh, dự kiến đến năm 2030 sẽ cần 460.000 người, nhưng nguồn cung hiện nay mới chỉ đáp ứng khoảng 40-45% con số này.

Tây Ninh giao Tập đoàn Đèo Cả nghiên cứu đề xuất dự án ĐT.827E theo phương thức PPP
Tây Ninh giao Tập đoàn Đèo Cả nghiên cứu đề xuất dự án ĐT.827E theo phương thức PPP

Về chất lượng nguồn nhân lực, theo khảo sát của Công ty Nghiên cứu và Tư vấn Công nghiệp Việt Nam, 60-80% doanh nghiệp logistics cho rằng nhân sự hiện nay chỉ ở mức ‘trung bình thấp’. Đa số lao động ngành chưa có kiến thức toàn diện về logistics hiện đại, kỹ năng ngoại ngữ yếu, thiếu khả năng ứng dụng công nghệ, và tư duy quản trị chuỗi cung ứng còn hạn chế.

TP.HCM chấp thuận chủ trương đầu tư khu “đất vàng” tại Đại lộ Võ Văn Kiệt
TP.HCM chấp thuận chủ trương đầu tư khu “đất vàng” tại Đại lộ Võ Văn Kiệt

Báo cáo Logistics Việt Nam 2024 chỉ ra rằng, có đến 85,7% doanh nghiệp logistics phải tự đào tạo nội bộ vì không thể tuyển được nhân sự có sẵn kỹ năng phù hợp. Tỷ lệ lao động được đào tạo bài bản chỉ chiếm khoảng 5-7% tổng số nhân sự ngành. Điều này cho thấy khoảng trống đào tạo đang rất lớn.

Đề xuất lộ trình chuyển đổi từ chế độ thuế khoán sang tự kê khai
Đề xuất lộ trình chuyển đổi từ chế độ thuế khoán sang tự kê khai

Không chỉ thiếu nhân lực làm việc, ngành logistics còn thiếu cả đội ngũ giảng viên và chuyên gia có năng lực đào tạo chuẩn hóa. Do đó, quy mô và chất lượng đào tạo chính quy, bao gồm cả dài hạn và ngắn hạn, hiện chưa theo kịp nhu cầu thị trường. Hơn 85% doanh nghiệp buộc phải tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ theo phương thức ‘vừa học vừa làm’.

Sự thiếu hụt nhân lực đang là điểm nghẽn lớn nhất kìm hãm sự phát triển bền vững của ngành logistics. Vì vậy, giải bài toán nhân lực logistics không chỉ là trách nhiệm của các trường đào tạo, mà còn là chiến lược dài hạn mà Nhà nước, doanh nghiệp và toàn ngành cần chung tay thực hiện. Đầu tư vào con người chính là đầu tư cho tương lai của ngành và cho cả vị thế logistics Việt Nam trên bản đồ toàn cầu.

Việc nâng cao năng lực lao động không thể chỉ trông chờ vào các cơ sở giáo dục truyền thống. Cần một chiến lược tổng thể trong việc gắn kết giữa doanh nghiệp và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Các doanh nghiệp lớn nên đầu tư các trung tâm đào tạo nội bộ, phối hợp cùng trường học trong việc xây dựng chương trình đào tạo thực chiến, để sinh viên ra trường không còn ‘bỡ ngỡ’ khi bước vào môi trường làm việc thực tế.

]]>